Tràn dịch màng phổi khu trú thường gặp trong: A. K.màng phổi. B. Viêm màng phổi có dày dính màng phổi. C. Tràn dịch kèm tràng khí màng phổi. D. Hội chứng Meig's. Hãy suy nghĩ và trả lời câu hỏi trước khi xem đáp án. Câu hỏi này thuộc ngân hàng trắc nghiệm dưới đây, bấm
. Cùng Medplus tìm hiểu về nguyên nhân và triệu chứng của hội chứng meigs là như thế nào bạn đọc nhé! Hội chứng meigs Hội chứng Meigs là một bộ ba các tình trạng bệnh lý bao gồm một khối u buồng trứng lành tính cụ thể là u xơ buồng trứng, cổ trướng tích tụ dịch trong khoang bụng và tràn dịch màng phổi dịch xung quanh phổi trong khoang màng phổi. Hội chứng Meigs rất hiếm gặp, có xu hướng xảy ra thường xuyên nhất ở phụ nữ sau mãn kinh, đặc biệt là ở độ tuổi 50. Bạn hãy thảo luận với bác sĩ để biết thêm thông tin.[elementor-template id="263870"] 2. Triệu chứng hội chứng meigs Các triệu chứng phổ biến hội chứng Meigs là Khó thở Mệt mỏi Tăng kích thước bụng Sụt cân Vô kinh ở phụ nữ tiền mãn kinh Sưng phù Nhịp tim nhanh Xuất hiện cổ trướng Xuất hiện khối u vùng chậu Kiểm tra bụng có thể cảm nhận được khối u Bạn có thể gặp các triệu chứng khác không được đề cập. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào về các dấu hiệu bệnh, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ. Nếu bạn có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nêu trên hoặc có bất kỳ câu hỏi nào, xin vui lòng tham khảo ý kiến bác sĩ. Cơ địa mỗi người là khác nhau, vì vậy hãy hỏi ý kiến bác sĩ để lựa chọn được phương pháp thích hợp nhất. 3. Nguyên nhân hội chứng meigs Hội chứng Meigs xảy ra khi bạn có khối u buồng trứng lành tính, đặc biệt là một u xơ. Hội chứng này có thể bao gồm tràn dịch màng phổi và cổ trướng với các khối u ung thư buồng trứng và thậm chí các tình trạng như lupus ban đỏ hệ thống SLE với buồng trứng sưng to. Một số tình trạng Meigs có thể gây ra các hậu quả rất nghiêm trọng có khả năng đe dọa tính mạng. Lý do chính xác tại sao cổ trướng và tràn dịch màng phổi xảy ra với một khối u buồng trứng lành tính là không rõ ràng. Nguồn gốc dịch từ khối u, buồng trứng hoặc rò rỉ từ mạch máu hay hệ bạch huyết cũng chưa được biết rõ. Có một số nghiên cứu cho thấy chất dịch tiết ra ở khoang màng phổi khá giống với dịch cổ trướng ở bụng. Dịch cổ trướng và tràn dịch màng phổi được giải quyết khi loại bỏ khối u. Do vậy, khối u buồng trứng lành tính đóng một vai trò trung tâm trong hội chứng này. Tuổi già có thể làm tăng nguy cơ bị u buồng trứng và phụ nữ trong giai đoạn mãn kinh dễ bị viêm và có khối u trong buồng trứng. Béo phì, tiểu đường và hút thuốc lá cũng có thể hình thành khối u. Việc sử dụng lâu dài thuốc tránh thai dạng uống và liệu pháp hormone có thể làm tăng nguy cơ mắc hội chứng này. Bạn hãy thảo luận với bác sĩ để biết thêm thông tin. 4. Điều trị hội chứng meigs Trước tiên, bác sĩ phải tìm các nguyên nhân tiềm ẩn để điều trị hội chứng Meigs. Đối với người bị xơ gan, lượng muối ăn vào sẽ bị hạn chế, do đó bác sĩ có thể kê toa thuốc lợi tiểu như spironolactone. Thủ thuật dẫn lưu dịch đối với phụ nữ bị cổ trướng sẽ có lợi và thủ thuật này cần phải được thực hiện trong môi trường vô trùng. Ngoài ra, bác sĩ sẽ tạo đường thông cửa chủ trong gan qua tĩnh mạch cảnh đối với cổ trướng dai dẳng và thủ thuật dẫn lưu dịch mỗi 4 tháng. Thủ thuật dẫn lưu dịch hỗ trợ tạm thời để điều trị các triệu chứng và tạo đường thông có hiệu quả để quản lý bệnh cổ trướng ác tính. Đối với các dạng u nang buồng trứng nhẹ, không cần điều trị nhưng bác sĩ sẽ phải theo dõi vùng chậu thường xuyên để xem có bất kỳ thay đổi nào không. Phẫu thuật Bác sĩ sẽ phẫu thuật nội soi trên bụng người bệnh để loại bỏ u, việc này có hiệu quả trong điều trị u nang nhỏ lành tính. Đối với loại u ác tính, bác sĩ sẽ sử dụng phương pháp hóa trị kết hợp với các thuốc được đưa trực tiếp vào dạ dày để tiêu diệt tế bào ung thư. Tuy nhiên, thủ thuật này sẽ có tác dụng phụ như buồn nôn, nôn, các vấn đề về thận và nguy cơ nhiễm trùng. Các liệu pháp và phương pháp điều trị cụ thể được đưa ra dựa trên tình hình sức khỏe và sự phát triển của khối u liên quan. Phụ nữ trong giai đoạn hậu mãn kinh sẽ trải qua phẫu thuật cắt bỏ cả buồng trứng và vòi trứng hai bên hoặc cắt bỏ toàn bộ tử cung tùy thuộc vào tình hình. Đối với phụ nữ trong giai đoạn sinh sản, bác sĩ có thể cắt bỏ vòi trứng và buồng trứng một bên. Hội chứng meigs Tìm hiểu từ nguồn Verywell Health Như vậy, Medplus đã cung cấp cho bạn đọc đầy đủ thông tin hữu ích về hội chứng meigs, hy vọng bài đọc sẽ cung cấp cho bạn đọc nhiều thông tin bổ ích, giúp bạn nâng cao tầm hiểu biết mà hạnh phúc hơn. Bên cạnh đó, Medplus cũng cung cấp một số thông tin liên quan UNG THƯ XOANG MẶT NGUYÊN NHÂN VÀ TRIỆU CHỨNG ĐAU ĐẦU VÙNG TRÁN NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU TRỊ VIÊM XOANG TRÁN TRIỆU CHỨNG VÀ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ XOANG TRÁN CÓ CHỮA ĐƯỢC KHÔNG?
HỘI CHỨNG MEIG TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ BÁO CÁO CA BỆNH Lê Thanh Đức1,, Nguyễn Thị Lý Linh2 Hội chứng Meigs là một bệnh hiếm gặp được đặc trưng bởi tam chứng bao gồm khối u buồng trứng lành tính, cổ chướng, và tràn dịch màng phổi. Ở phụ nữ mãn kinh xuất hiện tràn dịch màng phổi, cổ chướng, CA125 tăng cao, và khối phần phụ có tỷ lệ cao là tổn thương ác tính. Mặc dù vậy, chẩn đoán cuối cùng dựa trên mô bệnh học sau mổ. Hội chứng Meigs cần được phân biệt trong những trường hợp này. Trong bài viết này, chúng tôi trình bày trường hợp bệnh nhân 56 tuổi, nhập viện với một khối vùng chậu, tràn dịch màng phổi, cổ chướng, và nồng độ CA125 tăng cao. Bệnh nhân sau đó được phẫu thuật cắt bỏ phần phụ bên tổn thương, kết quả giải phẫu bệnh là u xơ buồng trứng. MÃ TÀI LIỆU Giá Liên Hệ Ung thư buồng trứng là bệnh phổ biến trong các ung thư phụ khoa với gần 314,000 phụ nữ được chẩn đoán mỗi năm trên toàn thế giới và hơn 207,000 trường hợp tử vong vì bệnh[6]. Bệnh thường gặp ở độ tuổi mãn kinh, trung bình là 60 tuổi[1]. Bệnh nhân mãn kinh xuất hiện khối đặc phần phụ và cổ chướng, tràn dịch màng phổi, tăng CA125 gợi ý nhiều một khối u ác tính buồng trứng. Tuy nhiên, phẫu thuật và giải phẫu bệnh sau mổ là quan trọng, bởi vì một tỷ lệ nhỏ các bệnh nhân là bệnh lành tính, thông thường được biết đến như hội chứngHCMeigs. Bệnh được điều trị khỏi sau khi cắt khối u tiểu khung. Sau đây chúng tôi sẽ trình bày một trường hợp hội chứng Meigs gây ra bởi khối u xơ buồng trứng.
Hội chứng Meigs là một bệnh hiếm gặp được đặc trưng bởi tam chứng bao gồm khối u buồng trứng lành tính, cổ chướng, và tràn dịch màng phổi. Ở phụ nữ mãn kinh xuất hiện tràn dịch màng phổi, cổ chướng, CA125 tăng cao, và khối phần phụ có tỷ lệ cao là tổn thương ác tính. Mặc dù vậy, chẩn đoán cuối cùng dựa trên mô bệnh học sau mổ. Hội chứng Meigs cần được phân biệt trong những trường hợp này. Trong bài viết này, chúng tôi trình bày trường hợp bệnh nhân 56 tuổi, nhập viện với một khối vùng chậu, tràn dịch màng phổi, cổ chướng, và nồng độ CA125 tăng cao. Bệnh nhân sau đó được phẫu thuật cắt bỏ phần phụ bên tổn thương, kết quả giải phẫu bệnh là u xơ buồng trứng. To read the full-text of this research, you can request a copy directly from the has not been able to resolve any citations for this HouLi PengMei ZhouBackground Meigs syndrome is a rare neoplastic disease characterized by the triad of benign solid ovarian tumor, ascites, and pleural effusion. In postmenopausal women with pleural effusions, ascites, elevated CA-125 level, and pelvic masses, the probability of disseminated disease is high. Nevertheless, the final diagnosis is based on its histopathologic features following surgical removal of a mass lesion. Here we describe a case of Meigs syndrome with pleural effusion as the initial manifestation. Case summary A 52-year-old woman presented with a 2-mo history of dry cough and oppression in the chest and was admitted to our hospital due to recurrent pleural effusion and gradual worsening of dyspnea that had occurred over the previous month. Two months before admission, the patient underwent repeated chest drainage and empirical anti-tuberculosis treatment. However, the pleural fluid accumulation persisted, and the patient began to experience dyspnea on exertion leading to admission. A computed tomography scan of the chest, abdominal ultrasound, and magnetic resonance imaging confirmed the presence of right-sided pleural effusion and ascites with a right ovarian mass. Serum tumor markers showed raised CA-125. With a suspicion of a malignant tumor, the patient underwent laparoscopic excision of the ovarian mass and the final pathology was consistent with an ovarian fibrothecoma. On the seventh day postoperation, the patient had resolution of the right-sided pleural effusion. Conclusion Despite the relatively high risk of malignancy when an ovarian mass associated with hydrothorax is found in a patient with elevated serum levels of CA-125, clinicians should be aware about rare benign syndromes, like Meigs, for which surgery remains the preferred treatment. Hyuna SungJacques FerlayRebecca L. SiegelFreddie BrayThis article provides an update on the global cancer burden using the GLOBOCAN 2020 estimates of cancer incidence and mortality produced by the International Agency for Research on Cancer. Worldwide, an estimated million new cancer cases million excluding nonmelanoma skin cancer and almost million cancer deaths million excluding nonmelanoma skin cancer occurred in 2020. Female breast cancer has surpassed lung cancer as the most commonly diagnosed cancer, with an estimated million new cases followed by lung colorectal %, prostate and stomach cancers. Lung cancer remained the leading cause of cancer death, with an estimated million deaths 18%, followed by colorectal liver stomach and female breast cancers. Overall incidence was from 2-fold to 3-fold higher in transitioned versus transitioning countries for both sexes, whereas mortality varied <2-fold for men and little for women. Death rates for female breast and cervical cancers, however, were considerably higher in transitioning versus transitioned countries vs per 100,000 and vs per 100,000, respectively. The global cancer burden is expected to be million cases in 2040, a 47% rise from 2020, with a larger increase in transitioning 64% to 95% versus transitioned 32% to 56% countries due to demographic changes, although this may be further exacerbated by increasing risk factors associated with globalization and a growing economy. Efforts to build a sustainable infrastructure for the dissemination of cancer prevention measures and provision of cancer care in transitioning countries is critical for global cancer E. RHOADSALEXANDER W. TERRELLFibroma of the ovary, an uncommon tumor, may rarely be associated with hydrothorax as well as with ascites. The knowledge that this association of pleural effusion with a benign pelvic tumor exists is extremely important from the standpoint both of prognosis and of treatment, since most pelvic tumors causing pleural effusion are malignant and the effusion is the result of pleural or pulmonary metastasis. In the presence of massive pleural effusion it may at times be impossible, even after partial aspiration, to exclude the presence of pulmonary metastasis by x-ray examination. We feel, then, that in these instances the occurrence of hydrothorax with a pelvic tumor justifies abdominal exploration and promises substantial hope of recovery in a considerable group in which the prognosis was previously regarded as Meigs and Cass1 reported a series of seven cases presenting the syndrome of fluid in the chest in association withCancer antigen-125 CA-125 is not a specific tumor marker and it is synthesized by normal and malignant cells of different origins. Recently it has been shown that various diseases are associated with increased CA-125 levels, especially in the presence of serosal fluid. The aim of this study is to investigate serum and fluid CA-125 levels in patients with different diseases. A total of 133 patients and 23 healthy control cases were included in the study and divided into eight groups on the basis of disease and the presence of fluid in the serosal cavities. Serum and serosal fluid CA-125 levels were measured by a commercial enzyme immunoassay kit at the same time. Comparisons among the groups were made. Abnormal levels of serum CA-125 were observed in 76% of ovarian cancer patients; 96% in patients with ascites and 56% in patients without ascites. Moreover, elevated serum CA-125 levels were detected in 52% of patients with hepatic diseases, in 100% of patients with nongynecologic peritoneal carcinomatosis, and in 87% of patients with pleural effusion. Serum and fluid CA-125 levels were significantly higher in cases of ovarian cancer with ascites than in the other groups P < A positive correlation between serum CA-125 levels and ascites amounts was observed in cases of ovarian cancer with ascites P < r = Furthermore, no correlation was observed between ovarian mass volume and serum CA-125 levels in ovarian cancer patients with stage I disease without ascites P = r = Although CA-125 levels may be considered a sensitive tumor marker in patients with epithelial ovarian cancer, it was determined that high serum CA-125 levels were closely related to the presence of serosal fluids and serosal involvement, whatever the origin is. These results should be considered in the interpretation of CA-125 elevation in patients with ovarian and practice of gynecologic oncologyCatheryn M YasharYashar, Catheryn M. Principle and practice of gynecologic oncology. Seventh ed; Wolters Kluwer; 2017; fibroma-clinical and histopathological characteristicsV SivanesaratnamR DuttaP JayalakshmiSivanesaratnam V, Dutta R, Jayalakshmi P. Ovarian fibroma-clinical and histopathological characteristics. Int J Gynaecol Obstet. 1990 Nov;333243-7. doi 90009-a. PMID 1977643.
article{L2023HICM, title={HỘI CHỨNG MEIG TỔNG QUAN T{\`A}I LIỆU V{\`A} B{\'A}O C{\'A}O CA BỆNH}, author={Thanh Đức L{\^e} and Thị L{\'y} Linh Nguyễn}, journal={Tạp ch{\'i} Y học Việt Nam}, year={2023} }Hội chứng Meigs là một bệnh hiếm gặp được đặc trưng bởi tam chứng bao gồm khối u buồng trứng lành tính, cổ chướng, và tràn dịch màng phổi. Ở phụ nữ mãn kinh xuất hiện tràn dịch màng phổi, cổ chướng, CA125 tăng cao, và khối phần phụ có tỷ lệ cao là tổn thương ác tính. Mặc dù vậy, chẩn đoán cuối cùng dựa trên mô bệnh học sau mổ. Hội chứng Meigs cần được phân biệt trong những trường hợp này. Trong bài viết này, chúng tôi trình bày trường hợp bệnh nhân 56 tuổi, nhập viện với một khối vùng chậu, tr…
Báo cáo ca lâm sàng một ca ung thư buồng trứng di căn từ ung thư vú có hội chứng giả Meigs. TÓM TẮT Một phụ nữ 54 tuổi tràn dịch màng phổi kéo dài và bị cổ trướng do khối u buồng trứng 2 bên. Bệnh nhân đã trải qua một cuộc phẫu thuật vú bảo tồn và nạo hạch nách do ung thư vú bên trái vào tháng 10/2000, sau đó phát triển tràn dịch màng phổi bên trái vào tháng 7/2006. Xét nghiệm tế bào học của dịch màng phổi không tìm thấy tế bào ác tính. Bệnh nhânđược dẫn lưu màng phổi nhưng thất bại trong việc kiểm soát tràn dịch. Chụp PET cho thấy có khối u buồng trứng 2 bên. Sau khi thất bại trong việc kiểm soát báng bụng bằng hóa trị hệ thống và hóa trị trong ổ bụng, phẫu thuật cắt buồng trứng 2 bên được thực hiện. Nồng độ marker ung thư trở về bình thường và không còn cổ trướng và tràn dịch màng phổi. Giaỉ phẫu bệnh khối u cho thấy các khối u có những thụ thể estrogen từ khối ung thư vú của BN. Bệnh nhân không có tái phát thêm sau 40 tháng điều trị bằng chất ức chế aromatase. GIỚI THIỆU Hội chứng Meigs đặc trưng bởi cổ trướng và tràn dịch màng phổi liên quan với các khối u buồng trứng lành tính như u xơ, u tế bào vỏ, u Brenner, u tế bào hạt. Các triệu chứng của nó thường biến mất sau khi loại bỏ các khối u buồng trứng. Hội chứng Pseudo-Meigs giả Meigs được định nghĩa như là một hội chứng trong đó cho thấy các triệu chứng tương tự hội chứng Meigs nhưng ở bệnh nhân có khối u buồng trứng ác tính. Tuy nhiên, hội chứng pseudo Meigs từ ung thư vú cực kỳ hiếm và tiên lượng rất nghèo nàn một khi triệu chứng lâm sàng xuất hiện. Ung thư vú thường tiến triển di căn màng phổi, đặc biệt là màng phổi cùng bên, dẫn đến tràn dịch màng phổi. Tràn dịch màng phổi cùng bên gây ra bởi hội chứng pseudo Meigs có thể gây nhầm lẫn cho các bác sĩ và làm phức tạp thêm quyết định điều trị. Chúng tôi báo cáo một trường hợp rất hiếm gặp hội chứng giả Meigs có nguồn gốc từ ung thư vú, đã được điều trị thành công bằng phẫu thuật cắt buồng trứng. CA LÂM SÀNG Một phụ nữ 54 tuổi than phiền về việc đầy bụng vào tháng 2/2009. Cô đã trải qua một cuộc phẫu thuật vú bảo tồn và nạo hạch nách do phát hiện ung thư vú trái vào tháng 10/2000, sau đó bệnh nhân bị tràn dịch màng phổi trái hình 1A vào tháng 7/2006. Dẫn lưu ngực và theo dõi bằng OK-432 thất bại trong việc kiểm soát tràn dịch, khảo sát dịch thấy không có tế bào ung thư. Bệnh nhân đã bị tràn dịch màng phổi lượng thay đổi và được điều trị ngoại trú trong 30 tháng. Hình 1 CT Ngực. A CT ngực trước khi dẫn lưu. Tràn dịch màng phổi bên trái lượng lớn làm đẩy lệch trung thất. B CT ngực sau khi phẫu thuật cắt buồng trứng 2 dịch màng phổi biến mất hoàn toàn. Bệnh nhân sau đó bị chướng bụng và gia tăng nồng độ CEA và CA 15-3 huyết thanh Hình 2. Chụp PET / CT cho thấy khối u buồng trứng 2 bên hình 3 và cổ trướng. Hóa trị hệ thống paclitaxel 80 mg/m2/tuần và hóa trị trong ổ bụng carboplatin 100 mg/m2 kèm chọc hút ổ bụng 4,000-8,500 mL đều thất bại trong việc kiểm soát cổ trướng. Phẫu thuật cắt buồng trứng 2 bên được thực hiện để cung cấp một chẩn đoán xác định khối u buồng trứng và trên cơ sở đó có thể đưa ra gợi ý điều trị để kiểm soát cổ trướng. Buồng trứng phải và trái nặng lần lượt là 15 và 250 g khối u bên trái, phân thùy. Khảo sát tế bào học không thấy gieo rắc khối u trong trong ổ bụng và dịch báng không chứa tế bào ung thư. Khảo sát giải phẫu bệnh cho thấy các khối u được cấu tạo bởi các cấu trúc vững chắc và cấu trúc dạng ống Hình 4A đồng thời dương tính với thụ thể estrogen Hình 4B, thụ thể progesterone, cytokeratin CK -7, và protein-15 hình 4C , và âm tính với HER2 và CK20. Những biểu hiện giải phẫu bệnh lý này cho rằng các khối u buồng trứng có nguồn gốc từ bệnh ung thư vú của bệnh nhân. Hình 2 Nồng độ CEA và CA 15-3 trong máu. Nồng độ CEA và CA 15-3 giảm mạnh trong giới hạn trên bình thường sau khi cắt buồng trứng 2 bên. Hình 3 CT vùng chậu lúc bệnh nhân chướng bụng cho thấy một khối lớn mũi tên và dịch báng trong khoang chậu. Hình 4 Giải phẫu bệnh. A khối u đã được cấu tạo bởi các cấu trúc vững chắc và cấu trúc dạng ống nhuộm H & E × 100. B khối u giàu thụ thể estrogen giàu thụ thể hóa mô miễn dịch, × 100. C protein-15 dương tính mạnh, đặc biệt tại vùng ống tuyến của khối hóa mô miễn dịch, × 100 Bệnh nhân được xuất viện sau 9 ngày hậu phẫu. Tràn dịch màng phổi bên trái biến mất Hình 1B và nồng độ huyết thanh CEA và CA 15-3 giảm xuống dưới giới hạn trên bình thường Hình 2. Bệnh nhân tiến triển tốt bằng liệu pháp điều trị ức chế men aromatase và sau phẫu thuật hơn 40 tháng, vẫn chưa phát hiện tái phát. THẢO LUẬN Nguyên nhân của cổ trướng và tràn dịch màng phổi trong hội chứng Meigs vẫn chưa rõ ràng. Meigs đề nghị rằng các khối u buồng trứng cứng có thể gây kích ứng phúc mạc và kích thích việc sản xuất các dịch trong ổ bụng. Abramov và cộng sự cho rằng các cytokine viêm nhiễm như interleukin IL -6, IL-1β, và IL-8 đóng một vai trò quan trọng trong sự hình thành của cổ trướng và tràn dịch màng phổi trong hội chứng Meigs. Nguyên nhân phổ biến nhất của tràn dịch màng phổi được cho là liên quan đến sự di chuyển của dịch báng từ khoang ngực thông qua hệ thống bạch huyết xuyên cơ hoành. Tuy nhiên, trong trường hợp này do sự xuất hiện của tràn dịch màng phổi trước cổ trướng, chúng tôi không thể xác nhận nguyên nhân của tràn dịch màng phổi trong ca này. Tiên lượng của ung thư buồng trứng di căn thường nghèo nàn. Shiromizu và cộng sự đã báo cáo tỉ lệ sống sót ở những bệnh nhân có ung thư buồng trứng di căn sau 6 tháng, 1 năm, 2 năm lần lượt là 42%, 25%, 13%, nhưng tỉ lệ sống sót đã được cải thiện đến 75%, 63%, và 25 % ở những bệnh nhân không có di căn ngoài buồng trứng sau khi phẫu thuật cắt buồng trứng. Bệnh nhân bị ung thư buồng trứng di căn thường trải qua giai đoạn giảm hoặc biến mất hoàn toàn cổ trướng và tràn dịch màng phổi sau khi phẫu thuật, và cải thiện chất lượng cuộc sống. Một số báo cáo đã gợi ý rằng tiêm thuốc chống ung thư vào trong ổ bụng có thể điều trị hiệu quả cho bệnh ung thư buồng trứng và tránh gieo rắc tế bào ung thư vào phúc mạc. Phần lớn các bệnh nhân ung thư buồng trứng di căn bị gieo rắc ung thư trong ổ bụng sau khi cắt buồng trứng, nên phải hỗ trợ bằng việc sử dụng hóa trị liệu trong ổ bụng với cắt buồng trứng khi có thể. Tuy nhiên, ở bệnh nhân này trước khi phẫu thuật, việc hóa trị liệu hệ thống và hóa trị liệu trong ổ bụng không thể kiểm soát cổ trướng, và do đó chúng tôi đã không thể rút ra bất kỳ kết luận nào về tầm quan trọng về mặt lâm sàng của hóa trị liệu trong ổ bụng. Ung thư vú thường di căn phổi, xương, gan, và não, nhưng buồng trứng không phải là cơ quan đích thường gặp do di căn từ ung thư vú. Tuy nhiên, ung thư vú là nguyên nhân hàng đầu của ung thư buồng trứng do di căn ngoài ổ bụng. Thật không may, sự hiện diện của tràn dịch màng phổi cùng bên trong trường hợp này được hiểu sai là bị gây ra bởi ung thư màng phổi di căn từ ung thư vú, mặc dù thiếu các nốt màng phổi rõ ràng trên CT. Điều này có vẻ thích hợp để giải thích tràn dịch màng phổi và cổ trướng trong trường hợp này gây ra bởi hội chứng giả Meigs vì sự vắng mặt của các tế bào ác tính trong dịch màng phổi và dịch báng. Ung thư vú di căn thường được điều trị theo phác đồ Hortobagyi, nhằm mục đích giảm triệu chứng, kéo dài thời gian sống sót có thể, chứ không phải là để chữa khỏi hoàn toàn. Tuy nhiên, khả năng chữa khỏi bằng phương pháp điều trị đa mô thức có thể được áp dụng cho các bệnh nhân ung thư vú di căn ít. Mặc dù trong trường hợp này lượng di căn là khá lớn, phẫu thuật can thiệp vào buồng trứng có vẻ như là một biện pháp khả thi bởi vì không có tế bào ung thư được phát hiện trong dịch màng phổi hoặc dịch cổ trướng. Kết luận ở bệnh nhân có khối ung thư buồng trứng di căn từ ung thư vú này, việc phẫu thuật cắt buồng trứng đã làm thuyên giảm bệnh cho tới nay đã hơn 40 tháng và đây là trường hợp đầu tiên hội chứng pseudo-Meigs được điều trị thành công. Do đó, bác sĩ chuyên khoa ung thư vú nên xem xét việc cắt buồng trứng ở những bệnh nhân có hội chứng giả Meigs không có di căn ngoài buồng trứng. Nguồn References 1. Meigs JV, Cass JW. Fibroma of the ovary with ascites and hydrothorax. Am J Obstet Gynecol. 1937;33249–267. 2. Rhoads JE, Terrell AW. Ovarian fibroma with ascites and hydrothorax Meigs’s syndrome report of a case. JAMA. 1937;1091684–1687. 3. Meigs JV, Armstrong SH, Hamilton HH. A further contribution to the syndrome of fibroma of the ovary with fluid in the abdomen and chest, Meigs’ syndrome. Am J Obstet Gynecol. 1943;4619–37. 4. Meigs JV. Pelvic tumors other than fibromas of the ovary with ascites and hydrothorax. Obstet Gynecol. 1954;3471–486. [PubMed] 5. Fujii M, Okino M, Fujioka K, Yamashita K, Hamano K. Pseudo-Meigs’ syndrome caused by breast cancer metastasis to both ovaries. Breast Cancer. 2006;13344–348. [PubMed] 6. Kawakubo N, Okido M, Tanaka R, Mitsugi K, Fukuhara M, Aishima S, et al. Pseudo-Meigs’ syndrome associated with breast cancer metastasis to both ovaries report of a case. Surg Today. 2010;401148–1151. [PubMed] 7. O’Flanagan SJ, Tighe BF, Egan TJ, Delaney PV. Meigs’ syndrome and pseudo-Meigs’ syndrome. J R Soc Med. 1987;80252–253. [PMC free article] [PubMed] 8. Abramov Y, Anteby SO, Fasouliotis SJ, Barak V. The role of inflammatory cytokines in Meigs’ syndrome. Obstet Gynecol. 2002;99917–919. [PubMed] 9. Gagnon Y, Têtu B. Ovarian metastases of breast carcinoma. A clinicopathologic study of 59 cases. Cancer. 1989;64892–898. [PubMed] 10. Shiromizu K, Kawana T, Sugase M, Izumi R, Mizuno M. Experience with the treatment of metastatic ovarian carcinoma. Arch Gynecol Obstet. 1988;243111–114. [PubMed] 11. Tsubono M, Kaneko I, Kii E, Tanaka T, Murata T, Kamimura K, et al. Weekly paclitaxel administration and intraabdominal CBDCA injection possibly beneficial treatment for recurrent breast cancer associated with metastatic ovarian cancer and peritoneal dissemination after operation a case report. Gan To Kagaku Ryoho. 2005;32365–369. [PubMed] 12. Ishibashi M, Nakayama K, Oride A, Yeasmin S, Katagiri A, Iida K, et al. A case of PEPBEP-resistant ovarian dysgerminoma successfully treated by VeIP therapy. Gan To Kagaku Ryoho. 2009;36513–517. [PubMed] 13. Hortobagyi GN. Treatment of breast cancer. N Engl J Med. 1998;339974–984. [PubMed] 14. Hortobagyi GN. Can we cure limited metastatic breast cancer? J Clin Oncol. 2002;20620–623. [PubMed] 15. Singletary SE, Walsh G, Vauthey JN, Curley S, Sawaya R, Weber KL, et al. A role for curative surgery in the treatment of selected patients with metastatic breast cancer. Oncologist. 2003;8241–251.
hội chứng demon meig